SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 thực hiện tốt đổi đơn vị đo đại lượng (GV: Nguyễn Thị Mai)

pdf 22 trang Linh Vy 20/03/2026 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 thực hiện tốt đổi đơn vị đo đại lượng (GV: Nguyễn Thị Mai)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 MỤC LỤC 
I. PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................... 2 
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 2 
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2 
3. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 3 
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 3 
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3 
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ...................................................................... 4 
1. Cơ sở lý luận ................................................................................................. 4 
2. Cơ sở thực tiễn .............................................................................................. 5 
2.1. Thực trạng .................................................................................................. 5 
2.2. Hạn chế ...................................................................................................... 5 
2.3. Nguyên nhân ............................................................................................... 6 
3. Các biện pháp thực hiện ................................................................................ 7 
3.1. Phân thành các dạng bài tập ..................................................................... 7 
3.2. Đa dạng hóa phương pháp giảng dạy........................................................ 9 
3.3. Luyện tập, thực hành theo nhóm đối tượng ............................................. 12 
3.4. Hướng dẫn học sinh làm sổ tay ................................................................ 15 
3.5 Phối hợp với phụ huynh học sinh .............................................................. 16 
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG .................................................................. 17 
1. Kết quả đạt được của sáng kiến .................................................................. 17 
2. Ứng dụng ..................................................................................................... 19 
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................ 20 
1. Kết luận ....................................................................................................... 20 
2. Kiến nghị ..................................................................................................... 21 
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 22 
 2 
 I. PHẦN MỞ ĐẦU 
 1. Lý do chọn đề tài 
 Môn Toán là một trong những môn học có vị trí quan trọng ở bậc Tiểu 
học. Nó góp phần phát triển trí thông minh, suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng 
tạo trong giải quyết vấn đề học tập cũng như cuộc sống. Trong những năm gần 
đây, xu thế chung của thế giới là đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy 
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học. 
 Trong các mạch kiến thức của môn Toán phần “Đại lượng và đo lường” 
là phần có kiến thức khó dạy vì nó mang tính khái quát cao, nó là một thuộc 
tính trừu tượng của các sự vật và hiện tượng. Những bài tập liên quan đến đổi 
đơn vị đo đại lượng có tác dụng rèn luyện tư duy tốt cho học sinh. 
 Việc làm tốt các bài tập về đổi đơn vị đo đại lượng đã rèn luyện cho các 
em năng lực tư duy, năng lực tự học và năng lực giải quyết vấn đề. Đồng thời 
giúp các em giải tốt các bài toán có lời văn liên quan đến các đơn vị đo 
đại lượng. 
 Thực tế với kinh nghiệm 4 năm công tác và giảng dạy ở chương trình của 
bậc Tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng, tôi nhận thấy có những bài toán đơn 
giản về chuyển đổi đơn vị đo nhưng học sinh lại làm sai dẫn đến những bài toán 
có liên quan đến đổi các số đo cũng bị ảnh hưởng. Điều đó làm tôi băn khoăn, 
trăn trở, làm thế nào để học sinh nhớ được các đơn vị đo đại lượng, các em biết 
đổi và vận dụng chúng vào trong cuộc sống một cách thành thạo. Chính từ 
những lí do đó nên tôi mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh 
lớp 5 thực hiện tốt đổi đơn vị đo đại lượng”. 
 2. Mục đích nghiên cứu 
 Giúp học sinh thực hiện đổi các đơn vị đo đại lượng thành thạo, từ đó 
làm tốt các bài toán có lời văn liên quan đến đơn vị đo đại lượng và yêu thích 
môn học. 
 Đồng thời qua tìm hiểu các thông tin và từ thực tế giảng dạy, hiểu được 
các lỗi học sinh thường xuyên mắc phải khi đổi các đơn vị đo đại lượng. Từ đó 3 
đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm đạt hiệu quả tốt hơn khi tiến hành soạn 
giảng từng bài cụ thể về dạng toán chuyển đổi đơn vị đo đại lượng. 
 Tôi cũng hy vọng giúp bản thân nâng cao năng lực chuyên môn, tích lũy 
thêm kiến thức, kinh nghiệm trong công tác giảng dạy các môn học và đặc biệt 
là bồi dưỡng học sinh học tốt môn Toán. 
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 
 Tìm hiểu những đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học về đại 
lượng và đo dại lượng ở lớp 5. 
 Điều tra thực trạng việc dạy và học dạng toán chuyển đổi đơn vị đo độ 
dài, khối lượng và diện tích của giáo viên và học sinh lớp 5 trong trường Tiểu 
học. 
 Thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của biện pháp đã nêu trong bản 
báo cáo. 
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 
 - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 thực hiện 
tốt đổi đơn vị đo đại lượng. 
 - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 5A2, tại trường Tiểu học Nguyễn 
Khắc Nhu 
 5. Phương pháp nghiên cứu 
 - Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc các tài liệu có liên quan đến sáng 
kiến. Tìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo viên, vở bài tập, vở Luyện tập toán 5. 
 - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tọa đàm, trao đổi với giáo viên và 
học sinh Tiểu học. 
 - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Rút kinh nghiệm thông qua thực tế 
giảng dạy. 
 - Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy thực nghiệm, đối chứng, 
đánh giá hiệu quả của việc áp dụng phương pháp dạy học đã đề xuất. 
 4 
 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 
 1. Cơ sở lý luận 
 Căn cứ quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006, 
căn cứ thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo 
dục và Đào tạo về việc Triển khai Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 
2018 đối với học sinh lớp 5 trong nội dung đo lường có yêu cầu học sinh: Nhận 
biết được các đơn vị đo diện tích, thể tích, thời gian. Thực hiện được việc 
chuyển đổi và tính toán với các số đo diện tích, thể tích và số đo thời gian. Tính 
được diện tích hình tam giác, hình thang, chu vi và diện tích hình tròn. 
 Căn cứ thông tư 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016 sửa đổi, bổ sung 
một số điều của quy định đánh giá học sinh Tiểu học, trong đề kiểm tra định kỳ 
phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực theo 4 mức 
độ như sau: Mức 1: Nhận biết, nhắc lại được kiến thức, kĩ năng đã học. Mức 2: 
Hiểu kiến thức, kĩ năng đã học, trình bày, giải thích được kiến thức theo cách 
hiểu của cá nhân. Mức 3: Biết, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết 
vấn đề quen thuộc, tương tự trong học tập, cuộc sống. Mức 4: Vận dụng các 
kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề mới hoặc đưa ra những phản hồi 
hợp lý trong học tập, cuộc sống một cách linh hoạt. 
 Toán học có vị trí rất quan trọng trong cuộc sống thực tiễn, nó là công 
cụ cần thiết cho các môn học khác. Nó giúp học sinh nhận thức thế giới xung 
quanh để hoạt động có hiệu quả trong mọi lĩnh vực. 
 Qua nghiên cứu chương trình Toán Tiểu học nói chung và chương trình 
Toán lớp 5 nói riêng, tôi thấy được nội dung Toán lớp 5 gồm bốn mạch kiến 
thức chính gồm: Số học, đại lượng và đo đại lượng, hình học và giải toán có lời 
văn. Trong đó nội dung đại lượng và đo đại lượng giữ vai trò rất quan trọng 
nhằm giúp học sinh vận dụng vào thực tiễn cuộc sống. 
 Song song với sự đổi mới nội dung, việc đổi mới phương pháp dạy học 
cũng rất quan trọng. Hình thức dạy học chủ yếu theo định hướng phát triển 
năng lực: Học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề của bài học để chiếm lĩnh 5 
kiến thức mới, chủ động vận dụng các kiến thức đã học dưới sự tổ chức hướng 
dẫn của giáo viên. Để thực hiện được điều đó, bản thân tôi đã trải qua quá trình 
tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi. 
 2. Cơ sở thực tiễn 
 2.1. Thực trạng 
 2.1.1. Thuận lợi 
 Cán bộ quản lý nhà trường luôn chỉ đạo sát sao, quan tâm, động viên 
khích lệ giáo viên trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm 
tra đánh giá học sinh. Nhà trường trang bị đầy đủ thiết bị dạy học và tổ chức 
cho học sinh học 2 buổi/ngày. 
 Phụ huynh học sinh luôn quan tâm, chuẩn bị đầy đủ đồ dung học tập. 
Một số phụ huynh thường xuyên trao đổi với giáo viên để có phương pháp dạy 
con học tập ở nhà. Học sinh đa số ham học, thích hoạt động, cố gắng thi đua 
trong học tập. Gia đình các em chủ yếu ở gần trường thuận tiện cho việc học tập. 
 2.1.2. Khó khăn 
 Học sinh tuổi còn nhỏ, vẫn còn ham chơi nên các em chưa chịu khó học 
tập, nhiều em khi học tới các dạng toán khó thường “nản” hoặc không thích 
học. Nhiều gia đình phụ huynh học sinh làm công nhân nên thường xuyên tăng 
ca, vì vậy phụ huynh ít có thời gian dành cho con và quan tâm tới việc học của 
các em. 
 2.2. Hạn chế 
 Đầu năm học, sau khi nhận lớp, nắm bắt được thực trạng của lớp tôi nhận 
thấy học sinh lớp tôi còn nhiều hạn chế. Vì vậy tôi đã tiến hành khảo sát 31 em 
học sinh lớp 5A2 và thu được kết quả: 
 Đầu năm học 
 Nội dung khảo sát 
 Số học sinh Tỉ lệ % 
 Nêu đúng tên các đơn vị đo đại lượng 25/31 80,6 
 Thuộc các bảng đơn vị đo đại lượng đã học 26/31 83,8 6 
 Hiểu và biến đổi được các đơn vị đo đại lượng 20/31 64,5 
 Đổi các đơn vị đo đại lượng thành thạo 19/31 61,2 
 Chưa đổi được hoặc đổi được nhưng chưa thành 12/31 38,8 
 thạo các đơn vị đo đại lượng 
 Qua bảng số liệu trên cho thấy khả năng đổi các đơn vị đo đại lượng của 
các em còn hạn chế, chưa đổi thành thạo các đơn vị đo đã học. 
 2.3. Nguyên nhân 
 Ngay từ đầu năm khi nhận lớp tôi đã tiến hành khảo sát, phân loại học 
sinh và thông qua quá trình thực tế giảng dạy, tôi thấy nhiều em khi thực hiện 
đổi các đơn vị đo đại lượng vẫn mắc một số lỗi. Dưới đây là một số lỗi mà học 
sinh thường mắc phải khi thực hiện đổi đơn vị đo mà tôi đã đúc kết được: 
 Một số lỗi học sinh hay mắc phải 
 Lỗi học sinh thường mắc phải Nguyên nhân 
 2km = 20000m Chưa nắm vững mối quan hệ 
 8hm = 800dam Nhầm lẫn mối quan hệ giữa đơn vị của bảng 
 25m = 2500dm này với bảng đơn vị khác. 
 7020kg = 7tấn2kg Chưa đọc kĩ đề toán, vội vàng chưa suy nghĩ 
 3m3cm = 300003m kĩ dẫn đến sai xót trong khi thực hiện phép 
 tính. 
 23m = 2300cm Do kĩ năng tính toán còn hạn chế 
 1 dag viết thành 1dam Chưa thành thạo khi đọc tên, viết các đơn vị 
 1 cm viết thành 1dm cũng như khi đổi các đơn vị đo đại lượng. 
 Từ những thực trạng nêu trên, tôi luôn suy nghĩ, nghiên cứu tìm ra nhiều 
giải pháp để hạn chế những lỗi của học sinh khi tiếp xúc với các bài tập liên 
quan đến đổi đơn vị đo đại lượng. 7 
 3. Các biện pháp thực hiện 
 Từ thực tế giảng dạy, xuất phát từ một số nguyên nhân nói trên, tôi đã có 
một số biện pháp để rèn các em đổi đơn vị đo đại lượng: 
 3.1. Phân thành các dạng bài tập 
 3.1.1. Đổi đơn vị lớn sang đơn vị bé và đổi từ đơn vị bé sang đơn vị lớn 
 3.1.1.1. Đổi đơn vị lớn sang đơn vị bé 
 - Xác định mối quan hệ giữa đơn vị đã cho và đơn vị cần đổi. 
 - Dựa vào mối quan hệ trên để lập phép nhân với 10, 100, 1000, 
* Ví dụ: 
a) 35 dm = .cm 
Ta có: dm hơn cm 10 lần: 35 × 10 = 350 
Vậy: 35dm = 350cm 
b) 2,134kg = g 
Ta có: kg hơn g 1000 lần, căn cứ vào số 1000 có 3 chữ số 0 ta dịch dấu phẩy 
sang phải 3 chữ số. 
Vậy: 2,134kg = 2134g 
c) 3,4 m2 = dm2 
Ta có: m2 hơn dm2 100 lần, ta dịch dấu phẩy sang phải 2 chữ số, nếu thiếu số 
để dịch thì ta viết thêm chữ số 0. 
Vậy 3,4 m2 = 340 dm2 
 3.1.1.2. Đổi đơn vị bé sang đơn vị lớn 
 - Xác định mối quan hệ giữa đơn vị đã cho và đơn vị cần đổi. 
 - Dựa vào mối quan hệ trên để lập phép chia cho 10, 100, 1000,... 
* Ví dụ: 
a) 2mm =......dm 
 2
Ta có: mm kém dm 100 lần: = 0,02 
 100
Vậy: 2mm = 0,02dm 
b) 336,8cm = .. m 8 
Ta có: cm kém m 100 lần, ta dịch chuyển dấu phẩy sang trái 2 chữ số. 
Vậy: 336,8cm = 3,368m 
c) 6,5dm2 = .. m2 
Ta có: dm2 kém m2 100 lần, dịch dấu phẩy sang trái 2 chữ số, thiếu 1 số nên ta 
viết chữ số 0 trước chữ số 6 sau đó đặt dấu phẩy ở trước chữ số 0 và viết thêm 
1 chữ số 0 đằng trước dấu phẩy: 6,5dm2 = 0,065m2 
 3.1.2. Đổi từ một đơn vị đo sang hai đơn vị đo và đổi từ hai đơn vị đo 
sang một đơn vị đo 
 3.1.2.1. Đổi từ một đơn vị đo sang hai đơn vị đo 
 - Viết tên các đơn vị đo có liên quan theo thứ tự từ lớn đến bé: 
 Km hm dam m dm cm mm 
 - Ghi các chữ số trong số đã cho vào vị trí các đơn vị tương ứng (chữ số 
hàng đơn vị viết dưới đơn vị đã cho, mỗi chữ số ứng với một đơn vị, nếu đơn 
vị nào không có chữ số thì viết 0) 
 - Viết các giá trị vào đơn vị cần đổi. 
* Ví dụ: 
a) 3202kg = tấn . kg 
 tấn tạ yến kg 
 3 2 0 2 
Dựa vào cách làm trên ta thấy tấn là 2, ta điền số 2 vào đơn vị tấn, còn tất cả 
các số còn lại ta ghi vào đơn vị kg. 
Vậy: 3202kg = 3 tấn 202kg 
b) 6,52m2 = .m2 mm2 
Hàng đơn vị của số 6,52 là chữ số 6, ta dóng cột m2 và viết số 6, những số khác 
mỗi đơn vị ta viết 2 chữ số tương ứng, thiếu số thì ta viết thêm chữ số 0. 
 m2 dm2 cm2 
 6 52 0 
Vậy: 6,52m2 = 6m252dm2 
c) 2,245m3 = .m3 dm3 9 
 Làm tương tự các phần, nhưng mỗi đơn vị chứa 3 chữ số 
 m3 dm3 cm3 
 2 245 
Vậy: 2,245m3 = 2m3245dm3 
 3.1.2.2. Đổi từ hai đơn vị sang một đơn vị đo 
* Ví dụ: 
5m9mm =..............mm 
 Cách 1: 
 - Viết tên các đơn vị đo có liên quan theo thứ tự từ lớn đến bé: 
 km hm dam m dm cm mm 
 - Ghi các chữ số trong số đã cho vào vị trí các đơn vị tương ứng (chữ số 
hàng đơn vị viết dưới đơn vị đã cho, mỗi chữ số ứng với một đơn vị, nếu đơn 
vị nào không có chữ số thì viết 0) 
 - Nếu là số thập phân thì viết dấu phẩy của số thập phân ở vị trí đơn vị. 
 m dm cm mm 
 5 0 0 9 
 Vậy 5m9mm = 5009mm 
 Cách 2: Đổi lần lượt từng đơn vị đã cho ra đơn vị cần đổi đến rồi cộng 
các kết quả lại với nhau. 
Ta có: 5m9mm = 5000m + 9 mm = 5009mm 
Vậy: 5m9mm = 5009 mm 
 Đối với đơn vị đo khối lượng ta làm tương tự, còn đối với đơn vị đo diện 
tích 2 chữ số ứng với 1 đơn vị, đối với đơn vị đo thể tích 3 chữ số ứng với 1 
đơn vị, nếu đơn vị nào không có thì ta viết thêm hai chữ số đối với đơn vị đo 
diện tích và 3 chữ số đối với đơn vị đo thể tích. 
 3.2. Đa dạng hóa phương pháp giảng dạy 
 Bên cạnh việc nắm vững chuyên môn, giáo viên cần phải có phương 
pháp dạy học tốt để truyền tải thông tin và giúp học sinh nắm bắt được kiến 
thức đó một cách nhanh chóng ngay trên lớp. Các phương pháp thường vận 10 
dụng để dạy các bài toán về đo lường là: trực quan, thảo luận nhóm, trò chơi, 
lấy hoạt động học của học sinh làm trung tâm. Việc sử dụng linh hoạt các 
phương pháp dạy học vào trong các tiết học, giúp cho việc học môn toán với 
các em không còn nhàm chán và tăng thêm sự hứng thú, yêu thích môn học với 
nhiều em học sinh. Đối với mỗi tiết học, khi các em bắt đầu vào tiết học thì việc 
tạo hứng thú và kích thích sự tập trung của các em vào tiết học là việc rất quan 
trọng, vì vậy việc sử dụng các trò chơi là việc rất cần thiết. 
 - Phương pháp trò chơi: Có rất nhiều trò chơi khác nhau được tôi áp dụng 
như: Nông trại vui vẻ, khỉ qua sông, ai là triệu phú, trắc nghiệm plickers, 
classdojo 
 Các trò chơi khởi động vui vẻ 
 - Trắc nghiệm plickers 
 Plickers là một công cụ đơn giản, hấp dẫn học sinh cho phép GV thu thập 
dữ liệu đánh giá theo thời gian thực mà không cần sử dụng bất kỳ thiết bị cầm 
tay nào cho người học. Điều kiện thực hiện: có 1 máy tính và 1 điện thoại thông 
minh đã cài sẵn phần mềm plickers kết nối mạng Internet. Giáo viên tạo ra các 
thẻ có mã QR dành cho mỗi học sinh. Khi giáo viên đưa ra một câu hỏi, học 11 
sinh sẽ giữ tấm thẻ của mình có mã QR hướng về điện thoại của giáo viên. Sau 
đó giáo viên sẽ thu được kết quả trên điện thoại của mình và hiển thị trên Tivi. 
Việc sử dụng plickers giúp cho các tiết học trở nên hiệu quả hơn và nhanh 
chóng hơn. 
 Học sinh đang làm bài tập ở ứng dụng plickers 
 - Giao bài trực tuyến trên OLM 
 OLM là một phần mềm hỗ trợ học tập cho học sinh. Phần mềm cho phép 
giáo viên giao bài cho học sinh dưới dạng trắc nghiệm và tự luận. Giáo viên có 
thể sử dụng nguồn học liệu có sẵn hoặc tạo được bài thi cho tất cả các môn. 
Học sinh có thể học tập đơn giản trên phần mềm với điều kiện có máy tính hoặc 
điện thoại kết nối mạng Internet. 12 
 Học sinh làm bài tập trên OLM 
 - Ngay từ đầu năm tôi đã tạo tài khoản cho các em học sinh cả lớp trên 
phần mềm OLM và giao bài tập cho các em làm trực tuyến trên phần mềm vào 
các buổi cuối tuần. Các em đều rất hào hứng vì được học và làm bài tập trên 
phần mềm. Sau mỗi buổi làm bài tập các em sẽ được báo kết quả của bài học, 
phần mềm cho phép xem lại các câu sai và báo lỗi nếu làm sai. 
 Kết quả bài làm của học sinh thu được trên tài khoản giáo viên 
 3.3. Luyện tập, thực hành theo nhóm đối tượng 
 - Tôi dành nhiều thời gian và thiết kế một số bài tập có nội dung kiến 
thức liên quan đến đổi đơn vị đo đại lượng từ dễ đến khó để cho học sinh thực 
hành luyện tập thêm vào giờ ra chơi hoặc cuối buổi học. Có chữa bài nhận xét, 
sửa sai cho học sinh. 13 
 - Để thiết kế được các phiếu bài tập phù hợp với từng nhóm đối tượng 
học sinh, ngay từ đầu năm khi nhận lớp tôi đã tiến hành khảo sát học sinh, phân 
loại đối tượng học sinh để luyện tập. Đối với nhóm học sinh kĩ năng tính toán 
còn hạn chế tôi thường xuyên cho các em thực hành nhân, chia nhẩm với 
10,100,1000 trong các giờ truy bài hay giờ giải lao cùng các bạn học sinh 
học tốt. 
 Một số bài tập rèn thêm của học sinh 
 Học sinh chia sẻ bài trong nhóm và giáo viên chữa bài cho học sinh 14 
 - Khi được luyện tập cùng các bạn theo nhóm, các em đều rất hào hứng 
và thích thú. Đặc biệt khi các em được làm các bài tập phù hợp với khả năng 
của mình, các em rất tích cực học tập, không “sợ khó”. Đối với nhóm đối tượng 
làm tốt, nội dung các bài tập mang tính chất tổng hợp và nâng cao. Tôi khuyến 
khích các em tham gia các cuộc thi trên mạng như Toán Violympic, Toán 
Vioedu để giúp các em ôn luyện lại kiến thức đã học. 
 - Ngay từ đầu năm học, khi triển khai các cuộc thi trên mạng như 
Violympic, Vioedu, tới các bậc phụ huynh và các em học sinh, các bậc phụ 
huynh đã rất quan tâm và tích cực tạo điều kiện, hỗ trợ các em tham gia. Các 
em tham gia các vòng tự luyện ở nhà, khi vượt qua các vòng loại các em sẽ 
tham gia vòng cấp trường, cấp Quận huyện, Thành phố, Quốc gia tại phòng Tin 
học của nhà trường. 
 Học sinh tham gia các cuộc thi trên mạng tại nhà 
 Học sinh tham gia các cuộc thi trên mạng tại trường 15 
 - Các em học sinh rất tự tin, mạnh dạn chia sẻ bài trong nhóm và chia sẻ 
bài trước lớp. Để có được sự tự tin, mạnh dạn đó là sự rèn luyện hàng ngày của 
các em thông qua các tiết học trên lớp. Đồng thời khi các em được chia sẻ bài 
cũng giúp các em phát triển năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề 
 Học sinh tự tin chia sẻ bài trước lớp 
 3.4. Hướng dẫn học sinh làm sổ tay 
 Để giúp các em có thể nhớ được các đơn vị trong bảng đơn vị đo và mối 
quan hệ giữa các đơn vị trong bảng đơn vị đo, tôi đã hướng dẫn các em làm sổ 
tay toán học. Với cách làm này học sinh ít bị nhầm lẫn bởi các em đã viết đơn 
vị đo theo thứ tự và chỉ cần viết một lần đã áp dụng cho nhiều bài đổi đơn vị. 
 Lưu ý khi lập bảng: 
 - Có thể lập cả bảng đơn vị đo hoặc tùy theo đơn vị đo trong bài tập lớn 
nhất là gì, nhỏ nhất là gì mà chọn số cột dọc cho phù hợp. 
 - Giá trị của đơn vị theo đề bài phải viết đúng cột. 16 
 - Trong bảng phân tích mỗi cột phải đủ 1 chữ số đối với bảng đơn vị đo 
độ dài và khối lượng, 2 chữ số đối với bảng đơn vị đo diện tích, 3 chữ số đối 
với bảng đơn vị đo thể tích. 
 - Tùy theo đề bài yêu cầu đổi đơn vị nào thì phải đánh dấu phẩy sang 1 
hoặc 2 hoặc 3 chữ số của đơn vị ấy hoặc chọn giá trị số phù hợp với đơn 
vị cần đổi. 
 - Sổ tay toán học này không những dùng để lập bảng đơn vị đo đại lượng 
mà còn có thể dung để ghi công thức toán học của các bài toán tính chu vi và 
diện tích các hình đã học, dạng toán chuyển động . 
 Học sinh tự làm sổ tay 
 3.5 Phối hợp với phụ huynh học sinh 
 Để giúp các em có thể đổi thành thạo các đơn vị đo đại lượng, tôi thường 
xuyên trao đổi với phụ huynh. Tôi hỗ trợ phụ huynh qua zalo gửi tới phụ huynh 
cách đổi đơn vị đo để phụ hiểu được và hướng dẫn con ở nhà buổi tối. Ngoài 
ra tôi cũng thường gọi điện, nhắn tin trao đổi riêng với phụ huynh để phụ huynh 
biết được tình hình học tập của con, để từ đó giúp đỡ các con trong học tập tại 
nhà vào các buổi tối. 
 Ngoài trao đổi trên điện thoại thông qua tin nhắn zalo, gọi điện trực tiếp, 
một số phụ huynh có thời gian, tôi thường gặp trực tiếp trao đổi các phương 
pháp dạy, từ đó giúp các con học tập hiệu quả hơn khi ở nhà. 17 
 Giáo viên trao đổi với phụ huynh trực tiếp và qua tin nhắn 
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG 
 1. Kết quả đạt được của sáng kiến 
 Sau một thời gian áp dụng nội dung và biện pháp mới trong dạy học, tôi 
nhận thấy kết quả học tập của các em học sinh đã được nâng lên rõ rệt. Từ chỗ 
học sinh còn nhầm lẫn đơn vị đo, chưa nắm vững mối quan hệ giữa các đơn vị 
đo, chưa nắm vững cách chuyển đổi, kĩ năng tính toán còn kém, đến nay đa số 
các em đã giải được các bài tập liên quan đến đại lượng. 
 Kết quả khảo sát sự thay đổi của lớp 5A2 năm học 2023-2024 
 18 
 Nhờ việc đổi đơn vị đo đại lượng thành thạo đã giúp các em giải tốt các 
bài toán có lời văn liên qua đến đổi đơn vị đo đại lượng, rèn được kĩ năng tính 
toán, đạt được nhiều kết quả cao trong các cuộc thi trên mạng như Violympic 
Toán cấp trường, cấp Quận Huyện và Vioedu các cấp. Các em học sinh đều 
rất hào hứng tham gia các cuộc thi trên mạng. Phụ huynh ủng hộ các con, hỗ 
trợ đầy đủ các thiết bị cho các con tham gia các cuộc thi. 
 Học sinh đạt giải Violympic Toán cấp Trường. 
 Học sinh đạt giải Violympic Toán cấp Quận và cấp Tỉnh. 19 
 2. Ứng dụng 
 Tôi chia sẻ các biện pháp mà tôi đã áp dụng thành công để giúp học sinh 
lớp 5 đổi đơn vị đo đại lượng với các đồng nghiệp tại trường mà tôi 
đang công tác. 
 Các giáo viên khối 5 lắng nghe biện pháp và áp dụng 
 Sau khi chia sẻ biện pháp, tôi nhận được sự góp ý của các đồng chí trong 
khối, trong tổ chuyên môn và cán bộ quản lí nhà trường. Dưới đây là hình ảnh 
các lớp đã áp dụng một số biện pháp đổi đơn vị đo đại lượng cho học sinh mà 
tôi đã chia sẻ vào các tiết dạy trên lớp. 
 Học sinh lớp 4A2 thích thú với phần khởi động. 20 
 Học sinh lớp 5A3 hứng thú học môn Toán 
 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 
 1. Kết luận 
 Bằng sự nỗ lực của bản thân cùng với sự quan tâm của Cán bộ quản lý, 
tổ chuyên môn, đồng nghiệp cũng như sự phối hợp nhịp nhàng của các bậc cha 
mẹ học sinh, khi thực hiện “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 thực hiện tốt 
đổi đơn vị đo đại lượng” đã giúp cho tôi có nhiều kinh nghiệm khi dạy các em 
học sinh nội dung đổi đơn vị đo đại lượng. Đặc biệt khi thực hiện biện pháp đã 
giúp các em học sinh biết đổi các đơn vị đo đại lượng, biết vận dụng kiến thức 
môn toán vào trong thực tiễn và cuộc sống. 
 Trong quá trình giảng dạy và rèn luyện kĩ năng cho học sinh tôi đã rút ra 
được bài học bổ ích cho bản thân đó là: Để đạt được hiệu quả cao trong các giờ 
dạy học nói chung và việc rèn kĩ năng chuyển đổi đơn vị đo đại lượng nói riêng, 
ngoài việc trang bị kiến thức cần thiết, người giáo viên cần phải nắm được trình 
độ của học sinh lớp mình phụ trách, phân loại học sinh đúng, từ đó có những 
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp. Trong quá trình dạy 
học, GV cần linh hoạt, dạy học phải lấy hoạt động học của học sinh làm trung 
tâm. Có đôi khi phải dung ngôn ngữ đời thường, những mẹo vặt để giúp học 

Tài liệu đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_5_thuc_hien_tot_doi.pdf