SKKN Biện pháp rèn kĩ năng viết sáng tạo trong văn tả người cho học sinh lớp 5 (GV: Lê Thị Hà)

doc 26 trang Linh Vy 20/03/2026 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Biện pháp rèn kĩ năng viết sáng tạo trong văn tả người cho học sinh lớp 5 (GV: Lê Thị Hà)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ........ ... ..2
1. Lý do chọn biện pháp ... .... 2
2. Mục đích nghiên cứu . ... ... .3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu . .. 3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu... . 3
5. Phương pháp nghiên cứu . .3
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU . ... . .4
1. Cơ sở lí luận .... ... . .4
1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của việc viết sáng tạo . .. .4
1.2. Phát triển năng lực và phẩm chất qua viết sáng tạo .. .. ..4
2. Cơ sở thực tiễn .. ... .. ..5
2.1. Thực trạng . . . .. .5
2.2. Hạn chế . . .. .. ....6
2.3. Nguyên nhân .. . .. .6
3. Các biện pháp .. .. .. 7
3.1. Tổ chức hoạt động mở rộng vốn từ và làm sổ tay Tập làm văn .. ....7
3.2. Áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học ..... .. . 9
3.3. Xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh .. ..15
3.4. Khích lệ hứng thú học tập của học sinh, tạo động lực không tạo áp lực 
 . . .17
 3.5. Đồng hành cùng con - mỗi tuần một bài văn hay . . .. .18
III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG . .. ..18
IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . ..26 2
 I. PHẦN MỞ ĐẦU
 1. Lí do chọn biện pháp
 Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một trong những bộ môn giữ 
vai trò đặc biệt quan trọng, cung cấp cho học sinh kiến thức phổ thông về 
ngôn ngữ - phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Đồng thời 
ngôn ngữ cũng chính là phương tiện hữu hiệu nhất giúp học sinh học tập, 
khám phá, tích lũy kiến thức, hình thành các kĩ năng cần thiết cho cuộc sống. 
 Là một giáo viên trẻ công tác trong ngành Giáo dục được hơn 2 năm, 
bản thân tôi luôn thấy được tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng viết sáng tạo 
cho học sinh Tiểu học. Trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, phân môn 
Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao nhất, rèn cho học sinh cả 
bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Chính vì thế mà nó được xem là phân môn 
khó dạy học nhất. Những năm gần đây, mặc dù các giáo viên tiểu học đã tích 
cực đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Tuy 
nhiên, việc dạy kĩ năng viết đoạn văn, bài văn sáng tạo cho học sinh tiểu học 
vẫn còn nhiều hạn chế. Tài liệu hướng dẫn dạy viết sáng tạo cho học sinh tiểu 
học chưa nhiều, do đó việc dạy học viết sáng tạo vẫn gặp nhiều khó khăn. 
 Trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 5, tôi nhận thấy 
học sinh thường có tâm trạng chung là ngại viết và sợ viết văn. Khi chấm bài 
Tập làm văn, tôi thấy đa số học sinh đã biến các bài văn miêu tả thành văn kể. 
Học sinh bí từ trong làm văn, dùng từ đặt câu chưa phù hợp, viết câu còn rời 
rạc, chưa liên kết, chưa sáng tạo. Bố cục bài văn chưa rõ ràng, cách chấm câu, 
cách sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh chưa linh hoạt, chưa sinh động. Mặt khác, 
một số em còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc, chưa 
biết sử dụng bài văn mẫu để hình thành lối hành văn riêng của mình. Phần lớn 
các em dùng lời hướng dẫn của giáo viên để viết bài văn của mình một cách 
rập khuôn. 3
 Bản thân một số gia đình phụ huynh chưa thật quan tâm, chú ý tới con 
em mình nhất là các gia đình đông con, kinh tế khó khăn còn phó mặc cho 
giáo viên. Đa số phụ huynh đều không biết cách hướng dẫn con viết văn. 
 Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã trăn trở suy nghĩ, tìm tòi, học hỏi và 
tìm ra biện pháp giúp học sinh viết văn tả người được tốt, làm tiền đề, vững 
chắc để học sinh có thể học tốt ở các lớp cao hơn. Đó là lý do tôi chọn: “Biện 
pháp rèn kĩ năng viết sáng tạo trong văn tả người cho học sinh lớp 5” 
 2. Mục đích nghiên cứu
 - Giúp học sinh cảm thấy vui vẻ, hứng thú khi viết văn.
 - Giúp giáo viên lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả công tác dạy học.
 - Giúp bản thân tôi nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, tích lũy thêm kinh 
nghiệm trong công tác dạy học.
 3. Nhiệm vụ nghiên cứu
 - Khảo sát hiện trạng về kỹ năng viết văn sáng tạo trong văn tả người của 
học sinh lớp 5, nhằm mục tiêu phát hiện những khó khăn, hạn chế cũng như 
nhu cầu phát triển kỹ năng này cho học sinh.
 - Từ đó, thiết kế mục tiêu, đề ra kế hoạch cụ thể và lựa chọn các phương 
pháp dạy học đổi mới, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm lý, lứa tuổi và 
năng lực của học sinh.
 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
 - Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp rèn kĩ năng viết sáng tạo
 - Phạm vi nghiên cứu: Phân môn Tập làm văn lớp 5.
 5. Phương pháp nghiên cứu
 - Phương pháp thu thập, nghiên cứu, phân tích các tài liệu liên quan.
 - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.
 - Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp.
 - Dạy thực nghiệm, trải nghiệm thực tế.
 - Kiểm tra bằng nhiều hình thức khảo sát chất lượng.
 - Đúc rút kinh nghiệm. 4
 II. NỘI DUNG CỦA BIỆN PHÁP
 1. Cơ sở lí luận
 1.1 Khái niệm về viết sáng tạo
 Theo từ điển triết học, “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người 
tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần, mới về chất. Cái chính yếu của sáng 
tạo là sự mới mẻ của nó, và bởi thế chúng ta không có tiêu chuẩn qua đó có 
thể xét đoán nó.”
 Viết sáng tạo là một trong các yêu cầu của dạy học tạo lập văn bản trong 
xu hướng hiện đại, nhằm góp phần hình thành cho học sinh năng lực chung là 
năng lực sáng tạo (creative competence), một năng lực cốt lõi rất cần cho HS 
khi phải đối mặt với những thách thức và sự thay đổi liên tục của cuộc sống 
hiện đại. Trong viết sáng tạo, "người viết phải tạo ra một sản phẩm không 
giống với sản phẩm mà người khác đã tạo ra trước đó" [1; tr356]. Sản phẩm 
(bài viết, văn bản) sáng tạo được thể hiện trên cả phương diện nội dung và 
hình thức. Viết sáng tạo giúp học sinh không bị những suy nghĩ rập khuôn, 
máy móc đè nặng, áp đặt, nó như con tàu đưa các em vào thế giới của sự 
khám phá, nó đòi hỏi học sinh phải có ý tưởng, phải phác thảo được ý tưởng 
và thể hiện ý tưởng trong bài viết.
 Viết sáng tạo là viết về những điều mới mẻ. Luyện viết sáng tạo giúp 
người viết có kiến thức, có ý thức về sự suy nghĩ, khả năng suy nghĩ trong 
suốt thời gian viết cho đến khi đưa ra được sản phẩm tinh tế hơn. Viết sáng 
tạo giúp các em có được những trải nghiệm thực sự sâu xa hơn trong thế giới 
của sự sáng tạo.
 Viết sáng tạo là một hình thức viết diễn tả cảm nhận, cảm xúc, kinh 
nghiệm, tưởng tượng hay ý tưởng của người viết ở mức độ có ý thức hoặc 
tiềm thức. Nó được thúc đẩy bởi nhu cầu của người viết là "thể hiện", được 
thực hiện theo cách duy nhất, sáng tạo và thơ mộng.
 Idrees Pate cho rằng “Viết sáng tạo là bất kỳ dạng viết nào được viết 
bằng sự sáng tạo của trí tuệ: viết tiểu thuyết, viết thơ, sáng tác văn học phi hư 5
cấu và nhiều hơn nữa. Mục đích là để thể hiện một cái gì đó, cảm nhận, suy 
nghĩ hoặc cảm xúc” [2].
 Viết sáng tạo ở tiểu học có thể hiểu đơn giản là bài viết mà các em viết 
ra phải có cái mới cho dù nhỏ: mới về ý tưởng (nội dung), mới về cách biểu 
đạt (hình thức).
 1.2. Phát triển năng lực và phẩm chất qua viết sáng tạo
 Viết sáng tạo trong văn tả người không chỉ là quá trình rèn luyện kỹ 
năng ngôn ngữ mà còn là cách thức giáo dục phẩm chất, qua đó giúp học sinh 
phát triển sự đồng cảm, tôn trọng lẫn nhau và hiểu biết sâu sắc về con người. 
Qua đó, việc học không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu kiến thức mà còn là quá 
trình hình thành và phát triển phẩm chất, giúp học sinh trở thành công dân tốt 
của xã hội.
 2. Cơ sở thực tiễn
 2.1. Thực trạng
 2.1.1. Thuận lợi
 Cán bộ quản lí nhà trường đã tổ chức tập huấn cho toàn bộ giáo viên về 
Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018 và các phương pháp dạy học theo 
hướng phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh.
 Giáo viên trẻ tâm huyết trong công việc, sẵn sàng tìm hiểu, học hỏi và 
đổi mới các phương pháp để công tác giảng dạy luôn hoàn thành tốt. Bản thân 
tôi tự trau dồi kiến thức chuyên môn, tìm hiểu các nguồn tài liệu trên Internet 
để phục vụ công tác giảng dạy.
 Một số phụ huynh đã quan tâm đến việc học của con, thường xuyên trao 
đổi giúp các em rèn luyện kĩ năng viết tốt hơn.
 Học sinh lớp 5 tại trường tôi đang công tác, đa số các em đều lễ phép.
 2.1.2 Khó khăn:
 Một số giáo viên còn lúng túng trong khâu lựa chọn, vận dụng phương 
pháp khi dạy tập làm văn: chưa biết làm thế nào để mở rộng vốn từ; hay chưa 6
biết cách rèn cách viết câu sinh động, .. Giáo viên chưa tạo được hứng thú 
trong tiết học Tập làm văn.
 Đa số học sinh không thích viết văn. Khả năng dùng từ đặt câu của một 
số em chưa hay, vốn từ ngữ còn quá nghèo nàn, chưa biết cách sử dụng biện 
pháp nghệ thuật vào bài và bộc lộ cảm xúc dẫn đến lời văn khô khan, thiếu 
hình ảnh, thiếu tình cảm. Lặp câu, dẫn đến câu văn chưa sinh động.
 Đa số phụ huynh chưa biết cách hướng dẫn con viết văn ở nhà.
 2.2. Hạn chế
 Đầu năm học, dựa trên các nhiệm vụ của môn Tiếng Việt ở Tiểu học 
cùng những khó khăn mà học sinh thường gặp phải ở phân môn Tập làm văn, 
tôi nhận thấy học sinh lớp tôi còn nhiều hạn chế. Qua thực trạng tại lớp 5A1 
tôi tiến hành khảo sát 31 em học sinh và thu được kết quả:
 Nội dung khảo sát Giữa học kì I
 Số học sinh Tỉ lệ %
Bài văn xúc tích, lời văn sinh động, sáng tạo, giàu 7/31 22,6%
hình ảnh, cảm xúc chân thực.
Bài văn chưa giàu hình ảnh, ít sử dụng các biện pháp 11/31 35,5%
nghệ thuật khi miêu tả.
Bài văn miêu tả còn sơ sài, chưa đúng trọng tâm, sa 7/31 22,6%
vào liệt kê.
Bài văn sắp xếp ý lộn xộn, mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính 6/31 19,3%
tả.
 Qua bảng số liệu trên cho thấy, khả năng viết văn của học sinh lớp 5A1 
còn rất hạn chế. Nhiều em chưa biết sử dụng từ ngữ hay, phong phú, câu văn 
chưa giàu hình ảnh. Các em chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật (so 
sánh, ẩn dụ, nhân hoá. Đối với học sinh viết văn yếu còn chưa xác định được 
viết câu, sắp xếp ý như thế nào cho hợp lí. 
 2.3. Nguyên nhân 7
 Giáo viên chưa có sự đổi mới trong phương pháp dạy học để tạo hứng 
thú và khích lệ sự sáng tạo.
 Sự phát triển của Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 khiến học sinh tiếp xúc 
và phụ thuộc quá nhiều vào các thiết bị điện tử và môi trường số làm cho việc 
đọc sách và quan sát thế giới xung quanh không còn hấp dẫn. 
 Đa số gia đình của các em bố mẹ làm công nhân nên không có nhiều thời 
gian quan tâm đến việc học của con.
 3. Các biện pháp
 3.1. Tổ chức mở rộng vốn từ và làm sổ tay Tập làm văn lớp 5
 Qua việc khảo sát thực trạng làm văn của học sinh, tôi thấy rằng vốn từ 
phong phú là điều kiện quan trọng để viết được câu văn sinh động, giàu hình 
ảnh. Trong môn Tiếng Việt có 5 phân môn: phân môn Luyện từ và câu, phân 
môn Tập đọc, phân môn Chính tả, phân môn Kể chuyện luôn là phân môn mở 
rộng vốn từ cho học sinh. Ngoài ra, tôi còn mở rộng vốn từ cho học sinh tích 
hợp trong tất cả các môn học khác như môn: Khoa học, Đạo Đức . 
 Ví dụ: Khi dạy Khoa học bài: Nam hay nữ, học sinh được mở rộng vốn 
từ về cơ thể người. Qua bài học này, học sinh thấy được những từ ngữ nào 
dùng để miêu tả ngoại hình, tính cách của bạn nam, từ nào dùng để miêu tả 
bạn nữ. 
 Học sinh thảo luận sắp xếp từ. 8
 Ở trên lớp, học sinh đã được mở rộng vốn từ qua các tiết học. Ở nhà, học 
sinh tiếp tục được thực hành mở rộng vốn từ thông qua Padlet. 
 Sản phẩm học sinh tìm từ ngữ tả ngoại hình trên Padlet.
 Sau khi học sinh đã tự tìm từ ngữ ở nhà, tôi chiếu các hình ảnh để học 
sinh so sánh và có cách nhìn khái quát về hình dáng. Học sinh tự tin, mạnh 
dạn hơn khi các em đã có vốn từ.
 Học sinh mở rộng thêm vốn từ trong tiết Tập làm văn. 9
 Để giúp học sinh hệ thống được vốn từ, tôi hướng dẫn học sinh làm "Sổ 
tay Tập làm văn". Đây là một cách thức tuyệt vời để giúp học sinh không chỉ 
áp dụng những gì các em đã học trong giờ lên lớp mà còn tự mình khám phá 
và mở rộng vốn từ vựng cũng như kỹ năng viết. 
 Để tăng động lực cho học sinh, tôi đã giới thiệu hệ thống "ticker" - một 
phương tiện để tích điểm đổi quà. Mỗi khi học sinh hoàn thành một trang sổ 
tay hoặc tạo ra một bài viết đặc biệt ấn tượng, các em sẽ nhận được ticker.
 Cả lớp hào hứng khoe sổ tay Tập làm văn tự thiết kế.
 Cuốn sổ tay giống như cuốn bí kíp về từ, mẫu câu để nếu quên các em có 
thể mở ra để xem lại.
 3.2. Áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học.
 Ngoài việc khai thác sự lí thú trong chính nội dung dạy học, hứng thú 
của học sinh còn được hình thành và phát triển nhờ các phương pháp, thủ 
pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích của các em. Đó chính là 
cách tổ chức dạy học dưới dạng các trò thi đố, các trò chơi, tổ chức hoạt động 
sắm vai, tổ chức hoạt động học theo nhóm, tổ chức dạy học dự án,...
 3.2.1. Phương pháp đóng vai 10
 Khi học sinh đã có vốn từ ngữ phong phú, tôi hướng dẫn học sinh viết 
câu. Có nhiều em hay viết văn tả mà như đang kể, cấu trúc câu bị lặp lại. 
 Ví dụ: Mẹ có đôi mắt long lanh. Mẹ có đôi tay mịn màng. Mẹ có khuôn 
mặt trái xoan. 
 Tôi sử dụng phương pháp đóng vai, học sinh sẽ vào vai là một phóng 
viên nhí để phỏng vấn các bạn trong nhóm theo hệ thống câu hỏi có sẵn. Từ 
đó thúc đẩy học sinh sử dụng vốn từ của minh một cách sáng tạo và hiệu quả 
hơn trong quá trình viết.
 *Tôi chiếu bảng từ kết hợp mẫu câu dẫn dắt cùng hệ thống câu hỏi: 
 - Đôi mắt như thế nào?
 - Khi vui đôi mắt đó như thế nào?
 - Khi nào đôi mắt toát lên vẻ buồn?
 - Khi nhìn vào đôi mắt em cảm nhận được điều gì?
 - Đôi tay như thế nào?
 - Đôi tay ấy đã làm những điều gì cho em?
 - Em cảm thấy thế nào khi được ôm ấp, vỗ về từ đôi bàn tay ấy?
 Phần ôn tập ở nhà cũng rất quan trọng, học sinh làm qua Padlet, qua 
Padlet học sinh không chỉ được học hỏi qua đoạn viết của một vài bạn mà là 
của cả lớp. 
 Giáo viên cung cấp cho học sinh các mẫu câu sinh động. 11
 3.2.2. Phương pháp trò chơi.
 Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi, giải trí đồng thời lại có ý nghĩa 
giáo dục lớn đối với con người. Để tiết Tập làm văn thêm sôi nổi, học sinh 
hứng thú với tiết học, tôi vận dụng phương pháp trò chơi. Tôi thường tổ chức 
nhiều trò chơi khác nhau như: trò chơi “ Thợ xây ngôn từ”, trò chơi “Đối 
đầu”, trò chơi “Truyền điện” để rèn khả năng tạo câu sinh động.
 Cách chơi trò chơi “Thợ xây ngôn từ”: Bạn quản trò sẽ lên bốc thăm chủ 
đề rồi gọi các bạn nối tiếp tạo thành câu hoàn chỉnh. Qua trò chơi học sinh 
được khuyến khích sử dụng vốn từ đã được mở rộng để tạo ra câu văn phong 
phú. Việc thường xuyên tiếp xúc và áp dụng đặt câu sẽ giúp học sinh ghi nhớ 
từ lâu hơn.
 Học sinh hứng thú với trò chơi “Thợ xây ngôn từ”.
 Trò chơi “Đối đầu” cũng là một trò chơi hấp dẫn giúp các em rèn đặt 
câu. Tôi sẽ đưa ra câu chủ đề. Nhiệm vụ của các em là thi đặt câu hay dựa 
trên nội dung câu cô cho. Bạn nào đặt được nhiều câu văn sinh động sẽ được 
tặng sticker. 12
 Việc rèn viết nhiều sẽ giúp học sinh ghi nhớ và diễn đạt tốt hơn. Để phụ 
huynh đồng hành cùng con khi ở nhà, tôi tạo trên padlet cung cấp kiến thức 
cần thiết, yêu cầu cụ thể.
 Hình ảnh bài viết của học sinh trên Paplet.
 3.2.3. Phương pháp thảo gợi mở.
 Trước khi viết đoạn, tôi gợi mở cho học sinh thông qua hệ thống câu hỏi:
 Câu 1. Người thân đó làm công việc gì? Người đó có đức tính gì trong 
công việc? (chăm chỉ, trách nhiệm, năng động) Nêu những biểu hiện của đức 
tính đó.
 Câu 2. Người đó có sở thích, tài năng gì? Biểu hiện của sở thích, tài năng 
đó.
 Câu 3. Người đó có những cử chỉ lời nói, hành động gì để thể hiện tình 
yêu với gia đình
 Câu 4. Người đó cư xử với em như thế nào? Kể ngắn một kỉ niệm sâu 
sắc của em với người đó cho thấy người thân đó rất yêu thương em.
 Câu 5. Người đó cư xử với người ngoài như thế nào? Những biểu hiện 
cụ thể của đức cụ thể của đức tính đó. 13
 Đoạn văn viết tả tính cách của học sinh trên Paplet.
 Các em sẽ được trao đổi, học hỏi và hướng dẫn nhau cách diễn đạt bằng 
lời nói.
 3.2.3. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề.
 Tập viết văn là một loại lao động đặc biệt. Lao động viết văn muốn trở 
thành kĩ năng và đạt được những thành quả phải trải qua một quá trình học tập 
và rèn luyện. Để tạo lập được một văn bản tốt, học sinh cần kiên trì tiến hành 
từng bước luyện tập theo một trình tự nhất định.
 Tiếp theo việc nắm nội dung, cùng với việc hướng tới người đọc và mục 
đích đạt tới của bài văn, học sinh phải tìm ý để triển khai nội dung đề bài văn. 
 Với mỗi đề bài cụ thể, tôi yêu cầu học sinh lập một dàn ý chi tiết theo 
các bước sau:
 - Xác định cấu tạo của bài văn (tả người) nói chung.
 - Quan sát đối tượng, tìm ý 
 - Chuyển dàn bài chung thành dàn ý chi tiết.
 Ví dụ: Với bài văn tả một người trong gia đình em, học sinh cần tìm 
được các ý thống nhất cho nội dung miêu tả người định tả đó là: 
 - Phần mở bài giới thiệu về người định tả. 
 - Phần thân bài: 14
 + Tả hình dáng (tuổi tác, tầm vóc, nước da, mắt, má, chân, tay, dáng đi, 
cách nói, ăn mặc, ... ). Nhấn vào một vài đặc điểm nổi bật, không cần liệt kê 
hết.
 + Tả tính tình (những thói quen, tài năng của người đó trong cuộc sống, 
người đó khi làm, thái độ với mọi người xung quanh, sự gắn bó với mình ). 
 + Tả hoạt động, tính cách (những việc người đó thường làm, hay việc 
làm cụ thể, ). 
 - Phần kết bài nêu tình cảm, cảm nghĩ của mình với người đó. Em đã làm 
gì để thể hiện tình cảm đó. 
 Với vai trò là người hướng dẫn, khêu gợi, học sinh suy nghĩ tự lực làm 
việc, tôi đã giúp huy động vốn sống, khả năng tưởng tượng và thực hiện ghi 
chép đạt kết quả tốt. Tuy nhiên, những gì học sinh đã có còn chưa rõ nét, chưa 
đầy đủ, toàn diện nên sau khi khơi gợi được vốn sống của các em thì điều 
quan trọng tiếp theo là phải "Làm rõ hơn những gì trẻ em đã có, làm phong 
phú, giàu có hơn những hiểu biết của các em về kiểu bài miêu tả".
 Tôi lưu ý học sinh, dàn bài của mỗi em không nhất thiết phải theo đúng 
trình tự dàn bài chung. 
 Ví dụ: Tả một người, không nhất thiết phải tả cả đầu, tóc, mắt, mũi, 
miệng, chân, tay,... cũng như không nhất thiết phải tả hình dáng rồi mới đến 
tính tình. Các em có thể tả lồng tính tình với hình dáng. 
 Hướng dẫn học sinh tìm ý, hoàn chỉnh dàn ý dựa trên phát triển sơ đồ tư 
duy, trên cơ sở tôn trọng cái riêng, tôn trọng cách nghĩ, cách cảm của mỗi học 
sinh, tôi đã giúp các em có cơ sở vững chắc để tạo lập được những văn bản 
hoàn chỉnh. 15
 Học sinh hứng lập dàn ý bằng sơ đồ tư duy.
 Bước lập dàn ý khi viết văn sáng tạo qua phát triển sơ đồ tư duy giúp 
cho học sinh không chỉ rõ ràng hóa ý tưởng của mình, mà còn tạo ra một 
khuôn khổ linh hoạt để phát triển ý đó một cách rõ ràng, mạch lạc. 
 Việc áp dụng sơ đồ tư duy, học sinh có thể dễ dàng nhìn ra và sắp xếp 
các ý tưởng của mình theo đoạn, giúp họ xác định được mối quan hệ giữa các 
ý tưởng. Từ đó tạo nên một cấu trúc vững chắc cho bài viết của mình. Hơn 
nữa, quá trình này còn khuyến khích học sinh phát triển khả năng suy nghĩ 
phản biện và sáng tạo. Khi học sinh cần liên tục đánh giá và lên ý tưởng của 
mình để phù hợp với dàn ý đã lập. 
 Qua đó, bước lập dàn ý không chỉ là việc chuẩn bị cho quá trình viết, mà 
còn là cơ hội để học sinh mài giũa và phát triển kỹ năng tư duy của mình, biến 
quá trình viết trở thành một hành trình phát hiện và sáng tạo không ngừng. 
 3.3. Xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh.
 Để nuôi dưỡng tình yêu sách và xây dựng thói quen đọc sách cho học 
sinh, việc tạo dựng một góc thư viện thân thiện ngay tại lớp học là biện pháp 
vô cùng hiệu quả. Góc thư viện không chỉ là nơi lưu trữ sách; nó còn là một 16
không gian mời gọi, khơi dậy sự tò mò và khám phá trong từng học sinh. Để 
thực hiện điều này, đầu năm tôi đã kêu gọi các em ủng hộ sách cho thư viện 
của lớp. Ngoài ra, lớp tôi còn đăng kí mua báo hàng tuần để giúp thư viện 
thêm phong phú hơn. Thông qua đọc, các em sẽ có thêm vốn từ, biết cách 
hành văn, diễn đạt lưu loát.
 Học sinh đọc sách trong giờ ra chơi.
 Bên cạnh đó, phong trào "Mỗi ngày một cuốn sách hay, một tấm gương 
sáng" được triển khai nhằm tạo động lực cho học sinh mỗi ngày đều dành ít 
nhất một khoảng thời gian để đọc và khám phá kiến thức mới. Các em được 
khích lệ chia sẻ về cuốn sách mình yêu thích hoặc những bài học đáng giá rút 
ra từ sách, qua đó tạo nên một môi trường học tập lẫn nhau. 
 Đặc biệt, bản thân tôi cũng tham gia cùng các em trong hành trình đọc 
sách hàng ngày, không chỉ để làm gương mà còn để chia sẻ niềm đam mê và 
khơi gợi sự hứng thú đọc sách trong mỗi học sinh. Qua đó, chúng tôi hy vọng 
không chỉ xây dựng được thói quen đọc sách cho học sinh mà còn giúp các 
em nhận ra được giá trị và niềm vui mà sách mang lại. 17
 3.4. Khích lệ hứng thú học tập của học sinh, tạo động lực không tạo 
áp lực.
 Khích lệ hứng thú học tập cho học sinh là việc làm hết sức cần thiết bởi 
nếu không kích thích, phát huy được hứng thú học tập của học sinh thì không 
thể có được hiệu quả học tập, càng không thể nói đến đến lòng ham học, ham 
hiểu biết của các em, nhất là đối với môn Tập Làm Văn, một môn học được 
coi là khó, khiến nhiều học sinh e ngại.
 Khích lệ học sinh tích cực làm việc giúp các em dễ dàng vượt qua khó 
khăn trong học tập. Kịp thời động viên, khen thưởng những học sinh viết văn 
hay hoặc có tiến bộ dù là nhỏ nhất. Nhưng cũng cần nghiêm khắc với tính ẩu 
và sự lười biếng nhưng không nặng lời trách mắng, chê bai. 
 Không ngần ngại động viên các em, cổ vũ sự sáng tạo của các em bằng 
những món quà nhỏ, ý nghĩa. Tôi trao giải “ Cây bút nhí” cho những bạn có 
bài viết hay, sáng tạo. Niềm vui của tôi được nhân lên khi tôi cảm nhận được 
sự xúc động, niềm vui sướng từ phía các em. Chưa bao giờ học sinh của tôi 
lại yêu thích môn làm văn và hào hứng khi viết văn đến vậy.
 Động viên, khích lệ học sinh bằng những món quà nhỏ.
 3.5. Đồng hành cùng con - Mỗi 1 tuần 1 bài văn hay. 18
 Viết văn sáng tạo là một trong những kĩ năng quan trọng mà mọi học 
sinh cần phải có. Thầy cô có thể là người hướng dẫn tốt những vẫn còn nhiều 
việc đơn giản mà phụ huynh có thể giúp con phát triển kĩ năng viết sáng tạo 
tốt hơn như: cùng con nhận xét về những bài viết, ..
 Phụ huynh cùng con ôn tập trên Padlet.
 Phụ huynh cùng con viết nhật kí hay ghi chú hằng ngày.
 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG
 *Kết quả 19
 Trên đây là một số biện pháp tôi đã áp dụng cho học sinh lớp 5A1 tại nơi 
tôi đang công tác - Trường Tiểu học Nguyễn Khắc Nhu. 
 Qua một học kì, tôi áp dụng cách dạy Tập làm văn như trên thì kết quả 
cho thấy: Bản thân đã trưởng thành hơn trong công tác giảng dạy. Khi lên lớp 
thu nhận được những kết quả khả quan tôi thấy mình tự tin hơn và tôi càng 
mong muốn có thể tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và rộng hơn về các thể loại 
văn miêu tả nói chung, dạng tả người nói riêng để tìm ra phương pháp đúng 
đắn dễ hiểu giúp giáo viên và học sinh dạy và học tốt hơn thể loại văn này. 
 Sau đây là một số kết quả đạt được của lớp 5A1 giữa học kì II:
 Nội dung khảo sát Giữa học kì I Giữa học kì II
 Số học sinh Tỉ lệ % Số học sinh Tỉ lệ %
Bài văn xúc tích, lời văn sinh 
động, sáng tạo, giàu hình 7/31 22,6% 18/31 58,1%
ảnh, cảm xúc chân thực.
Bài văn chưa giàu hình ảnh, 
ít sử dụng các biện pháp 11/31 35,5% 13/31 41,9%
nghệ thuật khi miêu tả.
Bài văn miêu tả còn sơ sài, 
chưa đúng trọng tâm, sa vào 7/31 22,6% 0 0%
liệt kê.
Bài văn sắp xếp ý lộn xộn, 
mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả. 6/31 19,3% 0 0%
 Nhìn vào bảng kết quả trên, cho thấy học sinh có tiến bộ rõ rệt so với đầu 
năm. Sau khi thực hiện một số biện pháp nêu trên, tôi nhận thấy rằng:
 Hầu hết các em đều thấy yêu mến văn học và thích làm văn hơn. 
 Nhờ việc mở rộng vốn từ, học sinh tìm từ nên các em đặt câu thuận lợi 
hơn. 20
 Học sinh luyện viết với mẫu câu rộng hơn: câu đúng ngữ pháp, biết sử 
dụng biện pháp tu từ nhân hóa, câu giàu hình ảnh, cảm xúc. 
 Luyện viết với số lượng câu văn tăng hơn, kết cấu đoạn văn và diễn đạt 
cảm xúc của các em cũng tiến bộ. Bài viết của các em hoàn chỉnh hơn nhiều. 
 Điều đáng chú ý là học sinh bắt đầu hứng thú với việc sáng tác các câu 
văn hay với tiết tập làm văn, đây là một khởi sắc đáng mừng. 
 Biết lập dàn ý cho bài văn miêu tả bước đầu viết được bài văn theo dàn 
ý. 
 Đã có nhiều học sinh biết dùng từ chính xác, sinh động, gợi tả, biết thể 
hiện cảm xúc khi viết văn. Lời văn trong sáng, giàu hình ảnh.
 Đặc biệt là sự tiến bộ rõ rệt của bạn Giáp Long Nhật. Từ một học sinh sợ 
viết văn, không biết viết văn, em đã có thể viết một bài văn giàu hình ảnh, 
sinh động. Em đã tự tin hơn trong việc viết văn. Đó là thành quả của sự cố 
gắng giữa cô, trò và phụ huynh. Điều đó một lần nữa khẳng định các biện 
pháp mà tôi vận dụng đã bước đầu phát huy hiệu quả và được thực tế kiểm 
nghiệm. Các biện pháp tôi đưa ra có tính khả thi.
 Dưới đây là bài viết của một số em học sinh lớp 5A1 sau khi tôi áp dụng 
các biện pháp:

Tài liệu đính kèm:

  • docskkn_bien_phap_ren_ki_nang_viet_sang_tao_trong_van_ta_nguoi.doc