SKKN Biện pháp rèn kĩ năng viết sáng tạo trong văn tả người cho học sinh lớp 5 (GV: Lê Thị Hà)
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Biện pháp rèn kĩ năng viết sáng tạo trong văn tả người cho học sinh lớp 5 (GV: Lê Thị Hà)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC I. PHẦN MỞ ........ ... ..2 1. Lý do chọn biện pháp ... .... 2 2. Mục đích nghiên cứu . ... ... .3 3. Nhiệm vụ nghiên cứu . .. 3 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu... . 3 5. Phương pháp nghiên cứu . .3 II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU . ... . .4 1. Cơ sở lí luận .... ... . .4 1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của việc viết sáng tạo . .. .4 1.2. Phát triển năng lực và phẩm chất qua viết sáng tạo .. .. ..4 2. Cơ sở thực tiễn .. ... .. ..5 2.1. Thực trạng . . . .. .5 2.2. Hạn chế . . .. .. ....6 2.3. Nguyên nhân .. . .. .6 3. Các biện pháp .. .. .. 7 3.1. Tổ chức hoạt động mở rộng vốn từ và làm sổ tay Tập làm văn .. ....7 3.2. Áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học ..... .. . 9 3.3. Xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh .. ..15 3.4. Khích lệ hứng thú học tập của học sinh, tạo động lực không tạo áp lực . . .17 3.5. Đồng hành cùng con - mỗi tuần một bài văn hay . . .. .18 III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG . .. ..18 IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO . . ..26 2 I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn biện pháp Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một trong những bộ môn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, cung cấp cho học sinh kiến thức phổ thông về ngôn ngữ - phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người. Đồng thời ngôn ngữ cũng chính là phương tiện hữu hiệu nhất giúp học sinh học tập, khám phá, tích lũy kiến thức, hình thành các kĩ năng cần thiết cho cuộc sống. Là một giáo viên trẻ công tác trong ngành Giáo dục được hơn 2 năm, bản thân tôi luôn thấy được tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng viết sáng tạo cho học sinh Tiểu học. Trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, phân môn Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao nhất, rèn cho học sinh cả bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Chính vì thế mà nó được xem là phân môn khó dạy học nhất. Những năm gần đây, mặc dù các giáo viên tiểu học đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực. Tuy nhiên, việc dạy kĩ năng viết đoạn văn, bài văn sáng tạo cho học sinh tiểu học vẫn còn nhiều hạn chế. Tài liệu hướng dẫn dạy viết sáng tạo cho học sinh tiểu học chưa nhiều, do đó việc dạy học viết sáng tạo vẫn gặp nhiều khó khăn. Trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 5, tôi nhận thấy học sinh thường có tâm trạng chung là ngại viết và sợ viết văn. Khi chấm bài Tập làm văn, tôi thấy đa số học sinh đã biến các bài văn miêu tả thành văn kể. Học sinh bí từ trong làm văn, dùng từ đặt câu chưa phù hợp, viết câu còn rời rạc, chưa liên kết, chưa sáng tạo. Bố cục bài văn chưa rõ ràng, cách chấm câu, cách sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh chưa linh hoạt, chưa sinh động. Mặt khác, một số em còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc, chưa biết sử dụng bài văn mẫu để hình thành lối hành văn riêng của mình. Phần lớn các em dùng lời hướng dẫn của giáo viên để viết bài văn của mình một cách rập khuôn. 3 Bản thân một số gia đình phụ huynh chưa thật quan tâm, chú ý tới con em mình nhất là các gia đình đông con, kinh tế khó khăn còn phó mặc cho giáo viên. Đa số phụ huynh đều không biết cách hướng dẫn con viết văn. Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã trăn trở suy nghĩ, tìm tòi, học hỏi và tìm ra biện pháp giúp học sinh viết văn tả người được tốt, làm tiền đề, vững chắc để học sinh có thể học tốt ở các lớp cao hơn. Đó là lý do tôi chọn: “Biện pháp rèn kĩ năng viết sáng tạo trong văn tả người cho học sinh lớp 5” 2. Mục đích nghiên cứu - Giúp học sinh cảm thấy vui vẻ, hứng thú khi viết văn. - Giúp giáo viên lựa chọn biện pháp nâng cao hiệu quả công tác dạy học. - Giúp bản thân tôi nâng cao nghiệp vụ chuyên môn, tích lũy thêm kinh nghiệm trong công tác dạy học. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Khảo sát hiện trạng về kỹ năng viết văn sáng tạo trong văn tả người của học sinh lớp 5, nhằm mục tiêu phát hiện những khó khăn, hạn chế cũng như nhu cầu phát triển kỹ năng này cho học sinh. - Từ đó, thiết kế mục tiêu, đề ra kế hoạch cụ thể và lựa chọn các phương pháp dạy học đổi mới, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm tâm lý, lứa tuổi và năng lực của học sinh. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp rèn kĩ năng viết sáng tạo - Phạm vi nghiên cứu: Phân môn Tập làm văn lớp 5. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập, nghiên cứu, phân tích các tài liệu liên quan. - Phương pháp điều tra khảo sát thực tế. - Dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp. - Dạy thực nghiệm, trải nghiệm thực tế. - Kiểm tra bằng nhiều hình thức khảo sát chất lượng. - Đúc rút kinh nghiệm. 4 II. NỘI DUNG CỦA BIỆN PHÁP 1. Cơ sở lí luận 1.1 Khái niệm về viết sáng tạo Theo từ điển triết học, “Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần, mới về chất. Cái chính yếu của sáng tạo là sự mới mẻ của nó, và bởi thế chúng ta không có tiêu chuẩn qua đó có thể xét đoán nó.” Viết sáng tạo là một trong các yêu cầu của dạy học tạo lập văn bản trong xu hướng hiện đại, nhằm góp phần hình thành cho học sinh năng lực chung là năng lực sáng tạo (creative competence), một năng lực cốt lõi rất cần cho HS khi phải đối mặt với những thách thức và sự thay đổi liên tục của cuộc sống hiện đại. Trong viết sáng tạo, "người viết phải tạo ra một sản phẩm không giống với sản phẩm mà người khác đã tạo ra trước đó" [1; tr356]. Sản phẩm (bài viết, văn bản) sáng tạo được thể hiện trên cả phương diện nội dung và hình thức. Viết sáng tạo giúp học sinh không bị những suy nghĩ rập khuôn, máy móc đè nặng, áp đặt, nó như con tàu đưa các em vào thế giới của sự khám phá, nó đòi hỏi học sinh phải có ý tưởng, phải phác thảo được ý tưởng và thể hiện ý tưởng trong bài viết. Viết sáng tạo là viết về những điều mới mẻ. Luyện viết sáng tạo giúp người viết có kiến thức, có ý thức về sự suy nghĩ, khả năng suy nghĩ trong suốt thời gian viết cho đến khi đưa ra được sản phẩm tinh tế hơn. Viết sáng tạo giúp các em có được những trải nghiệm thực sự sâu xa hơn trong thế giới của sự sáng tạo. Viết sáng tạo là một hình thức viết diễn tả cảm nhận, cảm xúc, kinh nghiệm, tưởng tượng hay ý tưởng của người viết ở mức độ có ý thức hoặc tiềm thức. Nó được thúc đẩy bởi nhu cầu của người viết là "thể hiện", được thực hiện theo cách duy nhất, sáng tạo và thơ mộng. Idrees Pate cho rằng “Viết sáng tạo là bất kỳ dạng viết nào được viết bằng sự sáng tạo của trí tuệ: viết tiểu thuyết, viết thơ, sáng tác văn học phi hư 5 cấu và nhiều hơn nữa. Mục đích là để thể hiện một cái gì đó, cảm nhận, suy nghĩ hoặc cảm xúc” [2]. Viết sáng tạo ở tiểu học có thể hiểu đơn giản là bài viết mà các em viết ra phải có cái mới cho dù nhỏ: mới về ý tưởng (nội dung), mới về cách biểu đạt (hình thức). 1.2. Phát triển năng lực và phẩm chất qua viết sáng tạo Viết sáng tạo trong văn tả người không chỉ là quá trình rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ mà còn là cách thức giáo dục phẩm chất, qua đó giúp học sinh phát triển sự đồng cảm, tôn trọng lẫn nhau và hiểu biết sâu sắc về con người. Qua đó, việc học không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu kiến thức mà còn là quá trình hình thành và phát triển phẩm chất, giúp học sinh trở thành công dân tốt của xã hội. 2. Cơ sở thực tiễn 2.1. Thực trạng 2.1.1. Thuận lợi Cán bộ quản lí nhà trường đã tổ chức tập huấn cho toàn bộ giáo viên về Chương trình Giáo dục Phổ thông 2018 và các phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh. Giáo viên trẻ tâm huyết trong công việc, sẵn sàng tìm hiểu, học hỏi và đổi mới các phương pháp để công tác giảng dạy luôn hoàn thành tốt. Bản thân tôi tự trau dồi kiến thức chuyên môn, tìm hiểu các nguồn tài liệu trên Internet để phục vụ công tác giảng dạy. Một số phụ huynh đã quan tâm đến việc học của con, thường xuyên trao đổi giúp các em rèn luyện kĩ năng viết tốt hơn. Học sinh lớp 5 tại trường tôi đang công tác, đa số các em đều lễ phép. 2.1.2 Khó khăn: Một số giáo viên còn lúng túng trong khâu lựa chọn, vận dụng phương pháp khi dạy tập làm văn: chưa biết làm thế nào để mở rộng vốn từ; hay chưa 6 biết cách rèn cách viết câu sinh động, .. Giáo viên chưa tạo được hứng thú trong tiết học Tập làm văn. Đa số học sinh không thích viết văn. Khả năng dùng từ đặt câu của một số em chưa hay, vốn từ ngữ còn quá nghèo nàn, chưa biết cách sử dụng biện pháp nghệ thuật vào bài và bộc lộ cảm xúc dẫn đến lời văn khô khan, thiếu hình ảnh, thiếu tình cảm. Lặp câu, dẫn đến câu văn chưa sinh động. Đa số phụ huynh chưa biết cách hướng dẫn con viết văn ở nhà. 2.2. Hạn chế Đầu năm học, dựa trên các nhiệm vụ của môn Tiếng Việt ở Tiểu học cùng những khó khăn mà học sinh thường gặp phải ở phân môn Tập làm văn, tôi nhận thấy học sinh lớp tôi còn nhiều hạn chế. Qua thực trạng tại lớp 5A1 tôi tiến hành khảo sát 31 em học sinh và thu được kết quả: Nội dung khảo sát Giữa học kì I Số học sinh Tỉ lệ % Bài văn xúc tích, lời văn sinh động, sáng tạo, giàu 7/31 22,6% hình ảnh, cảm xúc chân thực. Bài văn chưa giàu hình ảnh, ít sử dụng các biện pháp 11/31 35,5% nghệ thuật khi miêu tả. Bài văn miêu tả còn sơ sài, chưa đúng trọng tâm, sa 7/31 22,6% vào liệt kê. Bài văn sắp xếp ý lộn xộn, mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính 6/31 19,3% tả. Qua bảng số liệu trên cho thấy, khả năng viết văn của học sinh lớp 5A1 còn rất hạn chế. Nhiều em chưa biết sử dụng từ ngữ hay, phong phú, câu văn chưa giàu hình ảnh. Các em chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật (so sánh, ẩn dụ, nhân hoá. Đối với học sinh viết văn yếu còn chưa xác định được viết câu, sắp xếp ý như thế nào cho hợp lí. 2.3. Nguyên nhân 7 Giáo viên chưa có sự đổi mới trong phương pháp dạy học để tạo hứng thú và khích lệ sự sáng tạo. Sự phát triển của Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 khiến học sinh tiếp xúc và phụ thuộc quá nhiều vào các thiết bị điện tử và môi trường số làm cho việc đọc sách và quan sát thế giới xung quanh không còn hấp dẫn. Đa số gia đình của các em bố mẹ làm công nhân nên không có nhiều thời gian quan tâm đến việc học của con. 3. Các biện pháp 3.1. Tổ chức mở rộng vốn từ và làm sổ tay Tập làm văn lớp 5 Qua việc khảo sát thực trạng làm văn của học sinh, tôi thấy rằng vốn từ phong phú là điều kiện quan trọng để viết được câu văn sinh động, giàu hình ảnh. Trong môn Tiếng Việt có 5 phân môn: phân môn Luyện từ và câu, phân môn Tập đọc, phân môn Chính tả, phân môn Kể chuyện luôn là phân môn mở rộng vốn từ cho học sinh. Ngoài ra, tôi còn mở rộng vốn từ cho học sinh tích hợp trong tất cả các môn học khác như môn: Khoa học, Đạo Đức . Ví dụ: Khi dạy Khoa học bài: Nam hay nữ, học sinh được mở rộng vốn từ về cơ thể người. Qua bài học này, học sinh thấy được những từ ngữ nào dùng để miêu tả ngoại hình, tính cách của bạn nam, từ nào dùng để miêu tả bạn nữ. Học sinh thảo luận sắp xếp từ. 8 Ở trên lớp, học sinh đã được mở rộng vốn từ qua các tiết học. Ở nhà, học sinh tiếp tục được thực hành mở rộng vốn từ thông qua Padlet. Sản phẩm học sinh tìm từ ngữ tả ngoại hình trên Padlet. Sau khi học sinh đã tự tìm từ ngữ ở nhà, tôi chiếu các hình ảnh để học sinh so sánh và có cách nhìn khái quát về hình dáng. Học sinh tự tin, mạnh dạn hơn khi các em đã có vốn từ. Học sinh mở rộng thêm vốn từ trong tiết Tập làm văn. 9 Để giúp học sinh hệ thống được vốn từ, tôi hướng dẫn học sinh làm "Sổ tay Tập làm văn". Đây là một cách thức tuyệt vời để giúp học sinh không chỉ áp dụng những gì các em đã học trong giờ lên lớp mà còn tự mình khám phá và mở rộng vốn từ vựng cũng như kỹ năng viết. Để tăng động lực cho học sinh, tôi đã giới thiệu hệ thống "ticker" - một phương tiện để tích điểm đổi quà. Mỗi khi học sinh hoàn thành một trang sổ tay hoặc tạo ra một bài viết đặc biệt ấn tượng, các em sẽ nhận được ticker. Cả lớp hào hứng khoe sổ tay Tập làm văn tự thiết kế. Cuốn sổ tay giống như cuốn bí kíp về từ, mẫu câu để nếu quên các em có thể mở ra để xem lại. 3.2. Áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy học. Ngoài việc khai thác sự lí thú trong chính nội dung dạy học, hứng thú của học sinh còn được hình thành và phát triển nhờ các phương pháp, thủ pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích của các em. Đó chính là cách tổ chức dạy học dưới dạng các trò thi đố, các trò chơi, tổ chức hoạt động sắm vai, tổ chức hoạt động học theo nhóm, tổ chức dạy học dự án,... 3.2.1. Phương pháp đóng vai 10 Khi học sinh đã có vốn từ ngữ phong phú, tôi hướng dẫn học sinh viết câu. Có nhiều em hay viết văn tả mà như đang kể, cấu trúc câu bị lặp lại. Ví dụ: Mẹ có đôi mắt long lanh. Mẹ có đôi tay mịn màng. Mẹ có khuôn mặt trái xoan. Tôi sử dụng phương pháp đóng vai, học sinh sẽ vào vai là một phóng viên nhí để phỏng vấn các bạn trong nhóm theo hệ thống câu hỏi có sẵn. Từ đó thúc đẩy học sinh sử dụng vốn từ của minh một cách sáng tạo và hiệu quả hơn trong quá trình viết. *Tôi chiếu bảng từ kết hợp mẫu câu dẫn dắt cùng hệ thống câu hỏi: - Đôi mắt như thế nào? - Khi vui đôi mắt đó như thế nào? - Khi nào đôi mắt toát lên vẻ buồn? - Khi nhìn vào đôi mắt em cảm nhận được điều gì? - Đôi tay như thế nào? - Đôi tay ấy đã làm những điều gì cho em? - Em cảm thấy thế nào khi được ôm ấp, vỗ về từ đôi bàn tay ấy? Phần ôn tập ở nhà cũng rất quan trọng, học sinh làm qua Padlet, qua Padlet học sinh không chỉ được học hỏi qua đoạn viết của một vài bạn mà là của cả lớp. Giáo viên cung cấp cho học sinh các mẫu câu sinh động. 11 3.2.2. Phương pháp trò chơi. Trò chơi vừa mang tính chất vui chơi, giải trí đồng thời lại có ý nghĩa giáo dục lớn đối với con người. Để tiết Tập làm văn thêm sôi nổi, học sinh hứng thú với tiết học, tôi vận dụng phương pháp trò chơi. Tôi thường tổ chức nhiều trò chơi khác nhau như: trò chơi “ Thợ xây ngôn từ”, trò chơi “Đối đầu”, trò chơi “Truyền điện” để rèn khả năng tạo câu sinh động. Cách chơi trò chơi “Thợ xây ngôn từ”: Bạn quản trò sẽ lên bốc thăm chủ đề rồi gọi các bạn nối tiếp tạo thành câu hoàn chỉnh. Qua trò chơi học sinh được khuyến khích sử dụng vốn từ đã được mở rộng để tạo ra câu văn phong phú. Việc thường xuyên tiếp xúc và áp dụng đặt câu sẽ giúp học sinh ghi nhớ từ lâu hơn. Học sinh hứng thú với trò chơi “Thợ xây ngôn từ”. Trò chơi “Đối đầu” cũng là một trò chơi hấp dẫn giúp các em rèn đặt câu. Tôi sẽ đưa ra câu chủ đề. Nhiệm vụ của các em là thi đặt câu hay dựa trên nội dung câu cô cho. Bạn nào đặt được nhiều câu văn sinh động sẽ được tặng sticker. 12 Việc rèn viết nhiều sẽ giúp học sinh ghi nhớ và diễn đạt tốt hơn. Để phụ huynh đồng hành cùng con khi ở nhà, tôi tạo trên padlet cung cấp kiến thức cần thiết, yêu cầu cụ thể. Hình ảnh bài viết của học sinh trên Paplet. 3.2.3. Phương pháp thảo gợi mở. Trước khi viết đoạn, tôi gợi mở cho học sinh thông qua hệ thống câu hỏi: Câu 1. Người thân đó làm công việc gì? Người đó có đức tính gì trong công việc? (chăm chỉ, trách nhiệm, năng động) Nêu những biểu hiện của đức tính đó. Câu 2. Người đó có sở thích, tài năng gì? Biểu hiện của sở thích, tài năng đó. Câu 3. Người đó có những cử chỉ lời nói, hành động gì để thể hiện tình yêu với gia đình Câu 4. Người đó cư xử với em như thế nào? Kể ngắn một kỉ niệm sâu sắc của em với người đó cho thấy người thân đó rất yêu thương em. Câu 5. Người đó cư xử với người ngoài như thế nào? Những biểu hiện cụ thể của đức cụ thể của đức tính đó. 13 Đoạn văn viết tả tính cách của học sinh trên Paplet. Các em sẽ được trao đổi, học hỏi và hướng dẫn nhau cách diễn đạt bằng lời nói. 3.2.3. Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề. Tập viết văn là một loại lao động đặc biệt. Lao động viết văn muốn trở thành kĩ năng và đạt được những thành quả phải trải qua một quá trình học tập và rèn luyện. Để tạo lập được một văn bản tốt, học sinh cần kiên trì tiến hành từng bước luyện tập theo một trình tự nhất định. Tiếp theo việc nắm nội dung, cùng với việc hướng tới người đọc và mục đích đạt tới của bài văn, học sinh phải tìm ý để triển khai nội dung đề bài văn. Với mỗi đề bài cụ thể, tôi yêu cầu học sinh lập một dàn ý chi tiết theo các bước sau: - Xác định cấu tạo của bài văn (tả người) nói chung. - Quan sát đối tượng, tìm ý - Chuyển dàn bài chung thành dàn ý chi tiết. Ví dụ: Với bài văn tả một người trong gia đình em, học sinh cần tìm được các ý thống nhất cho nội dung miêu tả người định tả đó là: - Phần mở bài giới thiệu về người định tả. - Phần thân bài: 14 + Tả hình dáng (tuổi tác, tầm vóc, nước da, mắt, má, chân, tay, dáng đi, cách nói, ăn mặc, ... ). Nhấn vào một vài đặc điểm nổi bật, không cần liệt kê hết. + Tả tính tình (những thói quen, tài năng của người đó trong cuộc sống, người đó khi làm, thái độ với mọi người xung quanh, sự gắn bó với mình ). + Tả hoạt động, tính cách (những việc người đó thường làm, hay việc làm cụ thể, ). - Phần kết bài nêu tình cảm, cảm nghĩ của mình với người đó. Em đã làm gì để thể hiện tình cảm đó. Với vai trò là người hướng dẫn, khêu gợi, học sinh suy nghĩ tự lực làm việc, tôi đã giúp huy động vốn sống, khả năng tưởng tượng và thực hiện ghi chép đạt kết quả tốt. Tuy nhiên, những gì học sinh đã có còn chưa rõ nét, chưa đầy đủ, toàn diện nên sau khi khơi gợi được vốn sống của các em thì điều quan trọng tiếp theo là phải "Làm rõ hơn những gì trẻ em đã có, làm phong phú, giàu có hơn những hiểu biết của các em về kiểu bài miêu tả". Tôi lưu ý học sinh, dàn bài của mỗi em không nhất thiết phải theo đúng trình tự dàn bài chung. Ví dụ: Tả một người, không nhất thiết phải tả cả đầu, tóc, mắt, mũi, miệng, chân, tay,... cũng như không nhất thiết phải tả hình dáng rồi mới đến tính tình. Các em có thể tả lồng tính tình với hình dáng. Hướng dẫn học sinh tìm ý, hoàn chỉnh dàn ý dựa trên phát triển sơ đồ tư duy, trên cơ sở tôn trọng cái riêng, tôn trọng cách nghĩ, cách cảm của mỗi học sinh, tôi đã giúp các em có cơ sở vững chắc để tạo lập được những văn bản hoàn chỉnh. 15 Học sinh hứng lập dàn ý bằng sơ đồ tư duy. Bước lập dàn ý khi viết văn sáng tạo qua phát triển sơ đồ tư duy giúp cho học sinh không chỉ rõ ràng hóa ý tưởng của mình, mà còn tạo ra một khuôn khổ linh hoạt để phát triển ý đó một cách rõ ràng, mạch lạc. Việc áp dụng sơ đồ tư duy, học sinh có thể dễ dàng nhìn ra và sắp xếp các ý tưởng của mình theo đoạn, giúp họ xác định được mối quan hệ giữa các ý tưởng. Từ đó tạo nên một cấu trúc vững chắc cho bài viết của mình. Hơn nữa, quá trình này còn khuyến khích học sinh phát triển khả năng suy nghĩ phản biện và sáng tạo. Khi học sinh cần liên tục đánh giá và lên ý tưởng của mình để phù hợp với dàn ý đã lập. Qua đó, bước lập dàn ý không chỉ là việc chuẩn bị cho quá trình viết, mà còn là cơ hội để học sinh mài giũa và phát triển kỹ năng tư duy của mình, biến quá trình viết trở thành một hành trình phát hiện và sáng tạo không ngừng. 3.3. Xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh. Để nuôi dưỡng tình yêu sách và xây dựng thói quen đọc sách cho học sinh, việc tạo dựng một góc thư viện thân thiện ngay tại lớp học là biện pháp vô cùng hiệu quả. Góc thư viện không chỉ là nơi lưu trữ sách; nó còn là một 16 không gian mời gọi, khơi dậy sự tò mò và khám phá trong từng học sinh. Để thực hiện điều này, đầu năm tôi đã kêu gọi các em ủng hộ sách cho thư viện của lớp. Ngoài ra, lớp tôi còn đăng kí mua báo hàng tuần để giúp thư viện thêm phong phú hơn. Thông qua đọc, các em sẽ có thêm vốn từ, biết cách hành văn, diễn đạt lưu loát. Học sinh đọc sách trong giờ ra chơi. Bên cạnh đó, phong trào "Mỗi ngày một cuốn sách hay, một tấm gương sáng" được triển khai nhằm tạo động lực cho học sinh mỗi ngày đều dành ít nhất một khoảng thời gian để đọc và khám phá kiến thức mới. Các em được khích lệ chia sẻ về cuốn sách mình yêu thích hoặc những bài học đáng giá rút ra từ sách, qua đó tạo nên một môi trường học tập lẫn nhau. Đặc biệt, bản thân tôi cũng tham gia cùng các em trong hành trình đọc sách hàng ngày, không chỉ để làm gương mà còn để chia sẻ niềm đam mê và khơi gợi sự hứng thú đọc sách trong mỗi học sinh. Qua đó, chúng tôi hy vọng không chỉ xây dựng được thói quen đọc sách cho học sinh mà còn giúp các em nhận ra được giá trị và niềm vui mà sách mang lại. 17 3.4. Khích lệ hứng thú học tập của học sinh, tạo động lực không tạo áp lực. Khích lệ hứng thú học tập cho học sinh là việc làm hết sức cần thiết bởi nếu không kích thích, phát huy được hứng thú học tập của học sinh thì không thể có được hiệu quả học tập, càng không thể nói đến đến lòng ham học, ham hiểu biết của các em, nhất là đối với môn Tập Làm Văn, một môn học được coi là khó, khiến nhiều học sinh e ngại. Khích lệ học sinh tích cực làm việc giúp các em dễ dàng vượt qua khó khăn trong học tập. Kịp thời động viên, khen thưởng những học sinh viết văn hay hoặc có tiến bộ dù là nhỏ nhất. Nhưng cũng cần nghiêm khắc với tính ẩu và sự lười biếng nhưng không nặng lời trách mắng, chê bai. Không ngần ngại động viên các em, cổ vũ sự sáng tạo của các em bằng những món quà nhỏ, ý nghĩa. Tôi trao giải “ Cây bút nhí” cho những bạn có bài viết hay, sáng tạo. Niềm vui của tôi được nhân lên khi tôi cảm nhận được sự xúc động, niềm vui sướng từ phía các em. Chưa bao giờ học sinh của tôi lại yêu thích môn làm văn và hào hứng khi viết văn đến vậy. Động viên, khích lệ học sinh bằng những món quà nhỏ. 3.5. Đồng hành cùng con - Mỗi 1 tuần 1 bài văn hay. 18 Viết văn sáng tạo là một trong những kĩ năng quan trọng mà mọi học sinh cần phải có. Thầy cô có thể là người hướng dẫn tốt những vẫn còn nhiều việc đơn giản mà phụ huynh có thể giúp con phát triển kĩ năng viết sáng tạo tốt hơn như: cùng con nhận xét về những bài viết, .. Phụ huynh cùng con ôn tập trên Padlet. Phụ huynh cùng con viết nhật kí hay ghi chú hằng ngày. III. KẾT QUẢ VÀ ỨNG DỤNG *Kết quả 19 Trên đây là một số biện pháp tôi đã áp dụng cho học sinh lớp 5A1 tại nơi tôi đang công tác - Trường Tiểu học Nguyễn Khắc Nhu. Qua một học kì, tôi áp dụng cách dạy Tập làm văn như trên thì kết quả cho thấy: Bản thân đã trưởng thành hơn trong công tác giảng dạy. Khi lên lớp thu nhận được những kết quả khả quan tôi thấy mình tự tin hơn và tôi càng mong muốn có thể tiếp tục nghiên cứu sâu hơn và rộng hơn về các thể loại văn miêu tả nói chung, dạng tả người nói riêng để tìm ra phương pháp đúng đắn dễ hiểu giúp giáo viên và học sinh dạy và học tốt hơn thể loại văn này. Sau đây là một số kết quả đạt được của lớp 5A1 giữa học kì II: Nội dung khảo sát Giữa học kì I Giữa học kì II Số học sinh Tỉ lệ % Số học sinh Tỉ lệ % Bài văn xúc tích, lời văn sinh động, sáng tạo, giàu hình 7/31 22,6% 18/31 58,1% ảnh, cảm xúc chân thực. Bài văn chưa giàu hình ảnh, ít sử dụng các biện pháp 11/31 35,5% 13/31 41,9% nghệ thuật khi miêu tả. Bài văn miêu tả còn sơ sài, chưa đúng trọng tâm, sa vào 7/31 22,6% 0 0% liệt kê. Bài văn sắp xếp ý lộn xộn, mắc lỗi diễn đạt, lỗi chính tả. 6/31 19,3% 0 0% Nhìn vào bảng kết quả trên, cho thấy học sinh có tiến bộ rõ rệt so với đầu năm. Sau khi thực hiện một số biện pháp nêu trên, tôi nhận thấy rằng: Hầu hết các em đều thấy yêu mến văn học và thích làm văn hơn. Nhờ việc mở rộng vốn từ, học sinh tìm từ nên các em đặt câu thuận lợi hơn. 20 Học sinh luyện viết với mẫu câu rộng hơn: câu đúng ngữ pháp, biết sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa, câu giàu hình ảnh, cảm xúc. Luyện viết với số lượng câu văn tăng hơn, kết cấu đoạn văn và diễn đạt cảm xúc của các em cũng tiến bộ. Bài viết của các em hoàn chỉnh hơn nhiều. Điều đáng chú ý là học sinh bắt đầu hứng thú với việc sáng tác các câu văn hay với tiết tập làm văn, đây là một khởi sắc đáng mừng. Biết lập dàn ý cho bài văn miêu tả bước đầu viết được bài văn theo dàn ý. Đã có nhiều học sinh biết dùng từ chính xác, sinh động, gợi tả, biết thể hiện cảm xúc khi viết văn. Lời văn trong sáng, giàu hình ảnh. Đặc biệt là sự tiến bộ rõ rệt của bạn Giáp Long Nhật. Từ một học sinh sợ viết văn, không biết viết văn, em đã có thể viết một bài văn giàu hình ảnh, sinh động. Em đã tự tin hơn trong việc viết văn. Đó là thành quả của sự cố gắng giữa cô, trò và phụ huynh. Điều đó một lần nữa khẳng định các biện pháp mà tôi vận dụng đã bước đầu phát huy hiệu quả và được thực tế kiểm nghiệm. Các biện pháp tôi đưa ra có tính khả thi. Dưới đây là bài viết của một số em học sinh lớp 5A1 sau khi tôi áp dụng các biện pháp:
Tài liệu đính kèm:
skkn_bien_phap_ren_ki_nang_viet_sang_tao_trong_van_ta_nguoi.doc



